Bất cập hạ tầng giao thông Hải Phòng, cách nào khắc phục?

Kỳ 1: Trăm năm làm… cửa ngõ

Cập nhật:
Là cửa ngõ của miền Bắc, từ lâu Hải Phòng đã giữ vai trò là đầu mối giao thông quan trọng trong việc điều tiết giao thông, nhất là giao thông hàng hóa của khu vực. Chính vì vậy, hệ thống hạ tầng giao thông của TP thuộc diện “già” nhất, đa dạng nhất so với các địa phương khác. Đây chính là vị thế vượt trội nhưng đồng thời cũng là thách thức, có tác động to lớn không chỉ riêng cho thành phố. 
Tính về quy mô, ít có địa phương nào của miền Bắc có được hạ tầng đồng bộ các hình thức giao thông như Hải Phòng: đường bộ, đường sắt, đường sông, hàng không… và đặc biệt là hàng hải. Điều đáng nói việc hình thành hệ thống này tính theo thời gian đều thuộc diện sớm nhất, xuất hiện ngay từ những năm đầu tiên hình thành cái tên của thành phố.

Về đường bộ, Hải Phòng có 3 tuyến quốc lộ dài 108,1km chạy qua địa bàn (QL5, QL10 và QL38), 14 tuyến thành lộ và nội đô dài 250km, 424km đường đô thị cùng với 421km đường huyện và gần 2.500km đường xã. Kết nối trên đó là 13 cầu, hệ thống kho bãi dày đặc cùng 5 bến xe khách liên tỉnh đảm nhận vai trò vận chuyển hàng hóa, hành khách vào ra thành phố và mạng lưới các tỉnh thành phía Bắc. Tính cả đường sắt gộp vào loại hình trên bộ, dù chỉ có một tuyến duy nhất đi Hà Nội, đoạn qua Hải Phòng dài 24,4km với 4 ga nhưng đây lại là đầu mối cho hàng chục chuyến tàu mỗi ngày, nối liền các bến Cảng, phân phối qua trung tâm là Thủ đô Hà Nội.

Về đường thủy, thế mạnh vượt trội của thành phố cũng tương tự vì có gần chục cửa sông, tạo thành 19 tuyến vận tải với gần 400km, 50 bến cảng nội địa. Nhưng quan trọng nhất tạo nên vị thế chính là hệ thống cảng biển, theo thống kê, hiện có tới 35 doanh nghiệp khai thác, trên tổng chiều dài cầu cảng 9km (trong đó khu vực Đình Vũ có thể tiếp nhận tàu 4 vạn tấn), 5 bến phao chuyển tải. Chỉ tính riêng năm 2011, lượng hàng hóa thông qua các cảng đã đạt 44,2 triệu tấn.

Về hàng không, không tính các sân bay quân sự phục vụ cho mục đích quốc phòng, thì thành phố hiện mới có cảng Cát Bi, dù khiêm tốn nhưng cũng góp phần đáng kể trong vận tải hành khách và hàng hóa giữa Hải Phòng với TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, hạ tầng giao thông của thành phố đều được hình thành từ rất sớm, quy hoạch và thiết kế tồn tại từ hàng trăm năm, chịu tác động mạnh mẽ của nhiều cuộc chiến tranh, cải tạo chắp vá theo điều kiện của từng thời điểm. Mặc dù nhiều tuyến mới, công trình mới được khai thông nhưng chưa thực sự đáp ứng nhu cầu phát triển của con người, đô thị và kinh tế xã hội. Tại hội nghị Thành ủy lần thứ 7 được tổ chức gần đây, một trong những nội dung quan trọng là triển khai thực hiện NQ13 Hội nghị TW4 khóa 11 (NQ13) về Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Đây là vấn đề có tính chất vĩ mô cực kỳ quan trọng, cùng với việc thực hiện chủ đề năm “đô thị và an toàn giao thông”, sẽ đóng vai trò then chốt trong việc tháo gỡ những nút thắt về hạ tầng để Hải Phòng phấn phấn đấu đến năm 2015 cơ bản trở thành thành phố công nghiệp và dịch vụ cảng theo hướng văn minh hiện đại… như Nghị quyết đại hội 14 Đảng bộ thành phố đã đề ra.

Tại hội nghị này, hầu hết các ý kiến đều thống nhất với đánh giá về những hạn chế của hạ tầng giao thông Hải Phòng, trong dự thảo là: “Kết cấu hạ tầng giao thông đô thị thiếu đồng bộ, kém tính kết nối, chưa đáp ứng yêu cầu sử dụng và hội nhập quốc tế, nhất là hệ thống liên quan đến đường biển, cơ sở vui chơi giải trí cho người dân. Tính liên kết giữa các dạng hình giao thông trong toàn mạng lưới còn kém, hệ thống giao thông đối ngoại và ngoài đô thị hạn chế về công trình vượt sông và chất lượng vận tải. Giao thông đô thị đang đối mặt với nguy cơ ùn tắc và mất an toàn do thiếu các trục đường lớn, hạn chế tại các điểm giao cắt, thiếu không gian bến bãi đỗ phương tiện. Tỷ lệ đất dành cho giao thông đô thị quá nhỏ, thiếu hệ thống vành đai liên kết vùng và hệ thống giao thông công cộng liên vùng. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông trên hai hành lang chính đang quá tải so với nhu cầu, các hệ thống giao thông khác như sắt, sông, cảng… đều bộc lộ nhiều hạn chế…”.

Những nguyên nhân chủ quan được đưa ra là: Thiếu nguồn kinh phí để nâng cấp cải tạo, xây dựng mới hệ thống kết cấu hạ tầng, nguồn lực đầu tư chủ yếu dựa vào ngân sách. Chất lượng quy hoạch thấp, thiếu tính đồng bộ, bao quát kết nối và tầm nhìn dài hạn, quản lý thực hiện quy hoạch yếu. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, hệ thống pháp luật thiếu tính đồng bộ, nhiều quy định chưa phù hợp, chưa có chính sách thích hợp để huy động tiềm lực bên ngoài. Trong khi đó, ý thức của người tham gia giao thông trên tất cả các loại hình đều có nhiều điều phải bàn, văn hóa giao thông chưa được coi trọng.

Nhìn lại mấy năm gần đây, chúng ta có thể vui mừng nhận thấy sự đổi thay rất lớn khi xuất hiện những cơ sở hạ tầng mới như đường bộ đô thị có Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng…, tới đây là Cầu Rào-Hồ Sen và một số tuyến khác. Đường bộ ngoại tuyến có điểm nhấn chú ý nhất là đường ô tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng. Đường thủy ta có thêm khu vực cảng Đình Vũ, tương lai là cảng cửa ngõ nước sâu Lạch Huyện. Hàng không chuẩn bị nâng cấp sân bay Cát Bi và hứa hẹn sự ra đời của sân bay Tiên Lãng… Nhưng dù sao tất cả vẫn nằm trên lộ trình, trong khi đó so sánh theo thời gian thì bức tranh hiện tại đang ngày càng phản cảm. Ùn tắc không còn là nguy cơ, nó đã hiển hiện ngay tại các đường vào ra cảng, đặc biệt là đường 356 ra Đình Vũ và 37 điểm đen khác đã được thống kê.

(còn nữa)
LMT
Các tin đã đưa:
free html hit counter